Những đơn vị kiến thức có thể tinh giản ở chương trình học kỳ II, Ngữ văn lớp 9

Ngày 19/3/2020, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có quyết định thành lập một số tiểu ban để rà soát, tinh giản nội dung dạy học theo Chương trình phổ thông đối với những đơn vị kiến thức còn lại của học kỳ II trong năm học này.

Theo thông tin chúng tôi nắm được thì Bộ sẽ tinh giản nội dung ở tất cả các lớp học, trong đó đặc biệt chú trọng đến nội dung chương trình của lớp 9 và lớp 12 vì đây là học sinh cuối cấp, liên quan đến kỳ thì thi Trung học phổ thông quốc gia và thi tuyển sinh 10 tới đây.

Là một giáo viên dạy Ngữ văn lớp 9 đã nhiều năm, chúng tôi đề xuất một số bài học có thể tinh giản được mà không ảnh hưởng đến mạch kiến thức của môn học này trong nội dung còn lại của năm học.

Nhiều kiến thức Ngữ văn 9 có thể giảm tải được (Ảnh nguồn: Classbook.vn).

Theo phân phối chương trình thì học kỳ II của lớp 9 có 17 tuần thực học, đa phần các địa phương đã học được 2 tuần và học sinh hiện đang còn nghỉ học. Tuy nhiên, cũng có một số tỉnh cho học sinh lớp 9 đi học mấy tuần qua và hiện nay vẫn có những địa phương đang cho học sinh lớp 9 đi học như: Trà Vinh, Kiên Giang, Hậu Giang…

Như vậy, chỉ riêng với học sinh lớp 9 thì có tỉnh học được 2 tuần nhưng cũng có tỉnh đã học được 4-5 tuần của học kỳ II nên chương trình học vì thế cũng có sự khác nhau. Có tỉnh còn 15 tuần nhưng cũng có tỉnh chỉ còn 12 tuần, thậm chí là ít hơn.

Thế nhưng, các em học sinh lớp 9 sẽ có một số mốc thời gian chung như: xét công nhận tốt nghiệp trước ngày 31/7 và hoàn thành tuyển sinh 10 trước ngày 15/8 theo điều chỉnh khung thời gian năm học của Bộ ngày 13/3/2020 vừa qua.

Trong khi đó, môn Ngữ văn lớp 9 ở học kỳ II có 85 tiết, chia làm 3 phân môn là tiếng Việt, tập làm văn và phần văn bản – đây là môn thi bắt buộc trong kỳ thi tuyển sinh 10 của các tỉnh.

Đối với chương trình Ngữ văn 9 thì có 3 dạng bài: bài học chính khóa (nội dung sẽ kiểm tra, thi) và một số bài đọc thêm, tự học có hướng dẫn (không nằm trong nội dung kiểm tra và thi)

Trong 3 phân môn này thì phần môn tiếng Việt gần như không bỏ được bài nào vì đa phần là các bài ôn tập (nội dung của cả cấp học) còn 2 phân môn còn lại có thể bỏ được một số bài.

hững bài học có thể tinh giản được

Chính vì lịch học mỗi tỉnh khác nhau và phân phối chương trình (tự chủ) của mỗi trường có khác nhau nên chúng tôi tạm tính mốc thời gian từ tuần học thứ 21(tiết 101 đến tiết 185). Trong số 75 tiết còn lại này của môn Ngữ văn 9, có thể giảm được các bài như sau:

Phần văn bản ở học kỳ II của lớp 9 có 2 dạng bài khác nhau là bài học chính khóa và bài đọc thêm. Vì thế, chúng tôi thấy rằng có 3 tác phẩm văn học đọc thêm có thể tinh giản được, đó là: Bắc Sơn (2 tiết); Bến quê (2 tiết); Con cò (1-2 tiết).

Ngoài ra, phần văn bản có thể tinh giản được mốt số bài nữa là các bài: Tổng kết văn bản nhật dụng (2 tiết); Tổng kết văn học nước ngoài (2 tiết) vì 2 bài học này chỉ liệt kê lại số lượng bài học của cả 4 năm học. Về hình thức chỉ mang tính nhắc lại tên bài và một vài ý về nội dung, nghệ thuật một cách chiếu lệ mà thôi.

Phần tập làm văn có thể tinh giản được 6 tiết trả bài kiểm tra cho 6 bài kiểm tra định kỳ bởi trong lúc này thì việc dành mỗi bài kiểm tra có 1 tiết trả bài có thể sẽ lãng phí thời gian. Giáo viên có thể lồng ghép trả bài cho học trò vào cuối tiết học hoặc những tiết mà nội dung kiến thức ít.

Phần văn hành chính công vụ nên tinh giản bài: Thư, (điện) chúc mừng và thăm hỏi (2 tiết) vì bài học không còn phù hợp trong bối cảnh hiện nay. Bây giờ không ai còn sử dụng điện báo như ngày xưa nữa, hình thức điện báo đã mất hẳn trong nhiều năm qua, và điện chúc mừng thì phải là lãnh đạo mới sử dụng kiểu văn bản này.

Ngoài ra, học kỳ II của môn Ngữ văn 9 còn có phần chương trình địa phương hiện đang được bố trí 4 tiết/học kỳ và một số tiết văn học nước ngoài (phần văn xuôi) có 2 đoạn trích rất ngắn là: Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang và Con chó bấc (2 tiết) cũng có thể tinh giản được.  

Vì cả 2 đoạn trích này quá ngắn, chỉ có hơn 1 trang giấy nên học thì học sinh cũng khó phân tích, cảm nhận và thực tế chẳng nắm được bao nhiêu về nội dung cơ bản của tác phẩm.

Bắt buộc phải dạy tăng tiết mới kịp thời gian xét tốt nghiệp cho học sinh lớp 9

Như vậy, những bài học, những đơn vị kiến thức mà chúng tôi liệt kê ở phần trên trong các phân môn Ngữ văn lớp 9 có số lượng từ 20-25  tiết học (tùy vào cách bố trí của mỗi trường), nó sẽ tương đương với 4-5 tuần học hiện hành.

Những đơn vị kiến thức này thực tế thì gần như không nằm trong nội dung kiểm tra ở lớp và cũng không nằm trong nội dung thi tuyển sinh 10 mà nội dung bài học cũng hời hợt. Mặc dù, theo hướng dẫn hiện hành thì văn học địa phương và văn học nước ngoài có nằm trong chương trình kiểm tra và thi nhưng thực tế rất ít khi ra đề về các đơn vị kiến thức này.

Cùng với tinh giản chương trình học thì những bài kiểm tra thường xuyên, định kỳ có lẽ Bộ cũng cần có chủ trương tinh giản theo để tương đồng với phần nội dung bài học bởi thực tế thì bài kiểm tra của học sinh hiện nay cũng đang gây quá tải cho cả thầy và trò.

Bộ chỉ nên rà soát, tinh giản chương trình lớp 12, các lớp còn lại để các địa phương tự chủ

Chúng tôi cho rằng việc Bộ đang chủ động bắt tay vào việc rà soát, tinh giản các đơn vị kiến thức các lớp học là rất cần thiết, phù hợp với hoàn cảnh dịch bệnh hiện nay. Tuy nhiên, Bộ chỉ nên có chủ trương tinh giản lớp 12 vì nó liên quan đến kỳ thi Trung học phổ thông quốc gia.

Những khối lớp còn lại, Bộ chỉ nên chủ trương giảm bao nhiêu phần trăm số tiết trong thời gian còn lại của năm học. Phần nội dung giảm tải thì để các địa phương tự chủ sẽ thiết thực hơn vì hiện lịch học của mỗi tỉnh đang rất khác nhau, nhất là cấp Trung học phổ thông đang có độ chênh lệch rất lớn giữa các địa phương.

Hơn nữa, mỗi Sở, Phòng, nhà trường đều có hội đồng bộ môn, tổ chuyên môn- họ sẽ biết cách giảm chỗ nào phù hợp để vừa đảm bảo được mạch nội dung và vừa mang tính kế thừa các đơn vị kiến thức cho các lớp học phía sau nhằm hướng tới kỳ thi chung không bị ảnh hưởng.

Nếu Bộ làm cả từ lớp 1 đến lớp 12 thì không chỉ ảnh hưởng đến tiến độ thời gian khi qua nhiều nấc điều chỉnh mà về địa phương vẫn phải làm lại vì lịch học đang khác nhau. Tỉnh học trước, tỉnh học sau, tỉnh thực hiện tăng tiết, tỉnh không tăng tiết nên sẽ có những khó khăn trong việc phân bổ lại phân phối chương trình.